Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

Huyền Như nhiều lần bật khóc vì "bản thân đã làm hại mọi người"

PNO - Bị cáo Huỳnh Mỹ Hạnh nói: " Vì tin tưởng Như là em ruột của tôi, không ngờ Như đưa tôi vào con đường phạm tội". Ngồi ở hàng ghế bị cáo, Huyền Như bật khóc.

 Sáng 9/1, phiên toà xét xử vụ siêu lừa Hỳnh Thị Huyền Như đến phần Viện KSND TP.HCM xét hỏi.

Vị công tố không xét hỏi vì cho rằng HĐXX xét hỏi đã rõ và giữ nguyên cáo trạng. Vì vậy, HĐXX cho các luật sư xét hỏi.

Tạm dẫn Huyền Như về trại giam.

Mở đầu phần xét hỏi, LS Đặng Văn Châu bảo vệ cho Bảo hiểm Toàn Cầu hỏi Huyền Như 125 tỉ đồng gửi vào tài khoản tiền gửi tại VietinBank thuộc quyền quản lý của ai. Như trả lời: "Thuộc quyền quản lý của Bảo hiểm Toàn Cầu.

"Bị cáo và ngân hàng giữ, chẳng lẽ không có trách nhiệm gì?", luật sư hỏi tiếp. Như "đề nghị luật sư xem lại quy định".

Sau đó, luật sư Châu hỏi sang việc chuyển 125 tỉ đồng có làm lệnh chi không?. Như khai: "Có làm lệnh chi photo, bị cáo ký giả, không có lệnh chi thật của Bảo hiểm Toàn Cầu".

Để làm rõ vấn đề này, luật sư hỏi Phạm Thị Tuyết Anh, (nguyên nhân viên Phòng giao dịch Điện Biên Phủ của VietinBank), cô này cho biết, đến nay lệnh chi của Bảo hiểm Toàn Cầu vẫn chưa có bản chính, còn lúc đó có bản fax. "Khi chuyển tiền đi đã có chứ ký, đã có đóng dấu, còn chứng từ gốc do chị Như chịu trách nhiệm bổ sung".

Sau đó, luật sư Châu chuyển sang hỏi đại diện Ngân hàng VietinBank về trách nhiệm quản lý tiền gửi của khách hàng và các bị cáo vi phạm rõ ràng (trong việc chuyển tiền) suốt thời gian dài, VietinBank không phát hiện ra... Tuy nhiên, đại diện VietinBank nhiều lần tránh né trả lời trực tiếp vào câu hỏi làm không khí phòng xử trở lên căng thẳng, buộc lòng HĐXX nhắc nhở và thay đổi cách xét hỏi, không cho các luật sư xét hỏi trực tiếp mà cho VietinBank ghi nhận các câu hỏi rồi trả lời đầy đủ, trả lời chung một lần.

Luật sư Nguyễn Minh Tâm đại diện Công ty cổ phần chứng khoán SaigonBank - đề nghị hỏi riêng VietinBank vì quyền lợi gắn chặt với Vietinbank nhưng cũng bị từ chối.

Sau đó, HĐXX cho các luật sư hỏi các bị cáo thân thuộc với Như.

LS Trương Thị Hòa hỏi Huỳnh Mỹ Hạnh (chị của Huyền Như), Hạnh cho biết: "Trước khi về làm cho Công ty Hoàng Khải, bị cáo bán hột vịt lộn". "Nguyên nhân nào chị về làm cho Công ty Hoàng Khải?" - luật sư Hòa hỏi.

Hạnh khai: "Lúc đó, Như nói bán hột vịt lộn khi có khi không, thôi về làm công ty cho em. Sau đó, Như kêu tôi làm Phó giám đốc Công ty Hoàng Khải. Tôi đã thắc mắc và nói không đủ khả năng để làm, Như nói với tôi "chị là chị ruột của em hổng lẽ em hại chị sao, kêu chị làm cái gì thì chị làm cái đó đi, em không làm cái gì vi phạm pháp luật cả". Hạnh tiếp: "Khi ký hồ sơ vay tại VIB, tôi không biết trước hồ sơ, không biết số tiền. Như kêu ký thì ký".

Luật sư Hòa hỏi tiếp: "Chị suy nghĩ thế nào khi bị truy tố ra tòa?", Hạnh nghẹn ngào: "Tôi rất ân hận. Vì tin tưởng Như là em ruột của tôi, không ngờ Như đưa tôi vào con đường phạm tội".

Ngồi trước vành móng ngựa, Huyền Như bật khóc khi nghe chị gái khai như vậy.

Được luật sư thẩm vấn để làm rõ quan hệ Như và Hạnh, Huyền Như khai "thuê Hạnh làm nhân viên của Công ty Hoàng Khải, tiền lương 3 triệu sau tăng lên 7 - 8 triệu đồng/tháng. Toàn bộ do bị cáo làm, chị Hạnh không biết". Như khóc: "Bị cáo biết mình có lỗi. Bị cáo đã năn nỉ chị Hạnh làm, thuyết phục chị rằng có tiền trong tài khoản Hoàng Khải sẽ tự trích thanh toán mà không nói cho chị Hạnh biết sự thật".

Bị cáo Võ Anh Tuấn trên đường về trại tạm giam

LS Phan Trung Hoài bào chữa cho bị cáo Võ Anh Tuấn và Phạm Thị Tuyết Anh hỏi về mối quan hệ giữa Võ Anh Tuấn và Huỳnh Thị Huyền Như. Như khai có quan hệ đồng nghiệp với Võ Anh Tuấn khi cả hai cùng làm tại Phòng tín dụng VietinBank chi nhánh TP.HCM. Khi đó, Tuấn làm Phó phòng Tín dụng, còn Như làm cán bộ tín dụng.

Luật sư Hoài hỏi câu hỏi tương tự cho Võ Anh Tuấn :"Hai người có quan hệ tình cảm gì không?". Tuấn thưa: "Bị cáo và Như chỉ là đồng nghiệp, bạn bè và hùn hạp làm ăn không có tình cảm gì".

Luật sư Hoài hỏi tiếp: "Có bao giờ bị cáo tâm sự việc Như dính vào tín dụng đen và mường tượng sự việc như hôm nay không?. Tuấn đáp: "Mỗi người đều có gia đình riêng nên không phải việc gì Như cũng kể".

Về mối quan hệ làm ăn giữa mình và Như, Tuấn cho rằng đến năm 2007, Như cùng Tuấn thành lập Công ty Hoàng Khải để kinh doanh xuất nhập khẩu gạo, Như làm giám đốc, Tuấn là thành viên góp 500 triệu đồng. Như góp vốn bằng đất. Sau đó, công ty này không hoạt động gì. Như dùng 500 triệu đồng kinh doanh chứng khoán. Đến tháng 2/2011, Võ Anh Tuấn và Như cùng góp vốn xây dựng Nhà máy lau bóng gạo tại An Giang. Như góp 4.701,10 mét vuông đất, còn Tuấn đầu tư xây dựng nhà máy. Tuấn khai chịu trách nhiệm thực hiện dự án này. "Khoản tiền 10 tỉ đồng chuyển vào Công ty Hoàng Khải, bị cáo không biết nhưng toàn bộ tiền chuyển trả thanh toán xây dựng tường bao, nhà xưởng cho dự án này là từ Hoàng Khải".

Như khai "10 tỉ đồng nói trên có được do kinh doanh chứng khoán, bất động sản từ 500 triệu đồng của Tuấn ban đầu, việc chiếm đoạt số tiền 80 tỉ đồng của Thái Bình Dương không liên quan đến Võ Anh Tuấn, mà do bị cáo (Huyền Như) giả chữ ký". Trong việc chiếm đoạt của 3 công ty Phúc Vinh, Thịnh Phát, Hưng Yên 1.598 tỉ đồng, Như khai Tuấn không biết gì. Việc Như làm giả con dấu của VietinBank Nhà Bè, Võ Anh Tuấn cũng không biết.

Khi nói về suy nghĩ mình, Như khóc nói: "Vì việc làm sai trái của bị cáo mà các đồng nghiệp phải ngồi đây cùng với các bị cáo trước vành móng ngựa. Chỉ vì dính vào tín dụng đen mà bị cáo bị xoáy vào đồng tiền rồi cố gắng xoay xở mà vô tình hại mọi người, bị cáo rất ân hận".

Như vậy, sáng nay, có 6 luật sư đã hỏi các bị cáo. Chiều nay, các luật sư tiếp tục phần thẩm vấn.

Phan Hồng

Từ khoá: công ty cổ phần tín dụng bảo hiểm toàn cầu toàn cầu luật sư xây dựng bão chứng khoán kinh doanh bất động sản công ty gia trách nhiệm bảo hiểm thành lập công ty vietinbank

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Có giải quyết được bất cập?

(HNM) - Tại hội thảo "Triển khai đề án thí điểm sửa đổi thanh toán chi phí khám chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) theo định suất" do Bộ Y tế tổ chức vào chiều qua (7-1), nhiều đại biểu cho rằng, thời gian qua, Bộ Y tế và cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã nỗ lực xây dựng phương thức chi trả mới là thanh toán BHYT theo định suất. Tuy nhiên, khi áp dụng, phương thức này bộc lộ không ít bất cập, cần điều chỉnh nhằm khắc phục nhược điểm.

"Tuyến trên" tiêu tiền của "tuyến dưới"

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn, hiện nay, phương thức thanh toán BHYT theo định suất là một trong 3 phương thức chi trả được quy định trong Luật BHYT. Theo đánh giá sơ bộ, việc triển khai phương thức này bước đầu đã thu được kết quả nhất định. Số địa phương triển khai thanh toán BHYT theo định suất tăng lên qua các năm. Đến năm 2012, đã có 62/63 tỉnh, thành phố áp dụng phương thức thanh toán này, chỉ còn duy nhất TP Hồ Chí Minh chưa triển khai. Tỷ lệ thực hiện thanh toán theo định suất là 42% trên tổng số đơn vị ký hợp đồng KCB BHYT.

 

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Tuy nhiên, đánh giá của Viện Chiến lược và Chính sách y tế cho thấy, phương thức thanh toán BHYT theo định suất đang áp dụng tại Việt Nam còn nhiều điểm bất cập, cả về thiết kế cũng như triển khai thực hiện. Theo nguyên tắc chung được các nước trên thế giới đã áp dụng thành công, phương thức chi trả theo định suất chủ yếu sử dụng cho điều trị ngoại trú và chăm sóc sức khỏe ban đầu, nói cách khác là hoạt động dự phòng sức khỏe tại cộng đồng. Trong khi đó, ở Việt Nam, thiết kế định suất bao gồm cả điều trị nội trú, làm nảy sinh bất cập. Việc chi trả BHYT theo định suất được áp dụng một mức giá chi phí dịch vụ cố định cho một dịch vụ cung cấp luôn thay đổi, dẫn tới hệ quả không thể tránh là khả năng thừa quỹ hoặc vỡ quỹ định suất tại các tuyến. Năm 2011, có 418 cơ sở KCB có kết dư quỹ định suất với tổng số tiền 622 tỷ đồng, trong khi đó, ở 272 cơ sở KCB khác lại bội chi quỹ định suất với tổng số tiền 864 tỷ đồng.

Theo Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn, bất cập lớn nhất trong việc thực hiện thanh toán BHYT theo định suất là tình trạng "tuyến trên tiêu tiền của tuyến dưới". Quỹ định suất giao cho bệnh viện (BV) cả chi phí KCB đa tuyến và chi phí KCB bệnh nhân tự trả và thanh toán trực tiếp với cơ quan BHXH, dẫn đến rủi ro bội chi quỹ định suất do bệnh nhân KCB vượt tuyến. Trong thực tế, tỷ lệ bệnh nhân tự ý vượt tuyến tương đối cao, lên tới 75% ở một số địa phương. Điều đáng nói là mức chi phí KCB tại các tuyến trên thường cao gấp nhiều lần so với tuyến dưới vì nhiều lý do, trong đó có chuyện "thoáng tay" trong việc chỉ định, xét nghiệm, chụp chiếu cũng như kê đơn thuốc. Nếu thanh toán đa tuyến, đương nhiên là BV "tuyến dưới" không thể kiểm soát được dịch vụ và các khoản chi phí diễn ra ngoài cơ sở của mình. Kết quả là nhiều BV "tuyến dưới" đã bị thâm hụt quỹ định suất do chi phí đa tuyến, nhiều BV lâm vào cảnh nợ tiền thuốc trầm trọng, ảnh hưởng tới tình hình tài chính và hoạt động chuyên môn.

Triển khai thanh toán BHYT theo định suất từ năm 2016

Trước những bất cập trong triển khai phương thức thanh toán theo định suất, Bộ Y tế đã thành lập Ban chỉ đạo sửa đổi hướng dẫn thực hiện thanh toán chi phí KCB BHYT theo định suất. Nội dung sửa đổi liên quan đến thiết kế phương thức thanh toán, bao gồm phạm vi áp dụng, phương thức khoán quỹ và cách tính quỹ định suất. Sự điều chỉnh sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KCB BHYT cũng như quỹ KCB BHYT, liên quan đến việc phân bổ kinh phí và cân đối quỹ bảo hiểm, do đó, lãnh đạo Bộ Y tế và cơ quan BHXH Việt Nam cho rằng, nên tiến hành triển khai và đánh giá kết quả thí điểm phương án sửa đổi, tạo căn cứ thực tiễn để xây dựng thông tư hướng dẫn triển khai thanh toán BHYT theo định suất trên quy mô toàn quốc từ năm 2016.

Thay đổi trước tiên là phạm vi dịch vụ được chi trả theo định suất được giới hạn trong các dịch vụ tại tuyến y tế cơ sở. Mặt khác, chi phí dịch vụ đa tuyến sẽ được đưa ra khỏi quỹ định suất, giúp giải quyết vướng mắc lớn nhất hiện nay là quỹ định suất tại BV tuyến huyện bị trừ tới hơn 50% để chi trả cho các dịch vụ đa tuyến và các đơn vị thực hiện khoán định suất không thể kiểm soát được các chi phí này. Việc áp dụng mức trần định suất cứng (tức là nếu đơn vị nhận định suất sử dụng quá mức được giao thì BHXH không thanh toán, đơn vị phải tự cân đối) sẽ giúp kiểm soát chi phí khám chữa bệnh BHYT gia tăng trong mức cho phép.

Phương án sửa đổi được đề nghị đưa vào đề án thí điểm và bắt đầu áp dụng từ tháng 1-2014, tại 4 tỉnh: Bắc Ninh, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa. Ông Cao Ngọc Ánh (Vụ Kế hoạch tài chính - Bộ Y tế) cho biết, sau khi thực hiện đề án, cuối năm 2014 Bộ Y tế sẽ đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm và đề xuất phương án sửa đổi để tiếp tục áp dụng cho các địa phương khác. Theo lộ trình, việc triển khai thanh toán BHYT theo định suất sẽ được áp dụng trên quy mô toàn quốc vào năm 2016.

Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) Lương Ngọc Khuê yêu cầu các đơn vị triển khai thanh toán BHYT theo định suất phải bảo đảm người bệnh được KCB theo đúng hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và quy trình kỹ thuật mà Bộ Y tế đã ban hành. Mặt khác, các dịch vụ y tế phải bảo đảm an toàn, chất lượng, hiệu quả, mang lại sự hài lòng cao nhất cho người bệnh.

 

Ngày 7-1, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã họp về Dự thảo Thông tư ban hành danh mục thuốc BHYT thanh toán. Theo dự thảo, danh mục thuốc BHYT mới dự kiến sẽ loại bỏ 106 hoạt chất và 139 thuốc, bao gồm những thuốc có hiệu quả điều trị không rõ ràng, thuốc hỗn hợp vitamin dạng phối hợp đa thành phần không phải dạng truyền thống và thuốc trùng tên. Ngoài ra, còn một số thuốc đã được Cục Quản lý dược thông báo ngừng cấp số đăng ký. Để hạn chế lạm dụng thuốc, dự kiến sẽ có 34 thuốc được giới hạn chỉ định, quy định bệnh nào thì được thanh toán, thanh toán bao nhiêu...

Từ khoá: việt nam bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ bão gia bhxh kết quả chi phí khám chữa bệnh bệnh nhân thí điểm chữa bệnh bảo hiểm xã hội triển khai quy định kế hoạch tài chính dịch vụ thanh toán điều trị ngoại trú quỹ bảo hiểm điều trị nội trú

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Generali Việt Nam ra mắt sản phẩm Bảo an Đăng khoa

(ĐTCK) Công ty Generali Việt Nam vừa ra mắt một sản phẩm bảo hiểm giáo dục mới dành cho các bé từ 30 ngày tuổi trở lên với quỹ tiết kiệm vượt trội, bảo vệ toàn gia đình với thời gian đóng phí linh hoạt tùy theo nhu cầu của cha mẹ.

    Sản phẩm mới này được Generali Việt Nam đưa ra thị trường nhân sự kiện phát động kinh doanh 2014 của Công ty được tổ chức tại TP. HCM và Hà Nội.

    Bảo an Đăng khoa của Generali Việt Nam sẽ giúp các bậc phụ huynh hoàn toàn yên tâm với những giải pháp bảo vệ tài chính được hoạch định theo từng bước đi trên con đường học vấn của con mình.  

    Ngoài quyền lợi bảo hiểm giúp chu toàn ngân sách giáo dục ngay cả khi người đóng phí gặp rủi ro, lần đầu tiên và duy nhất trên thị trường sản phẩm có chi trả quyền lợi tiền mặt hàng năm giá trị cao ngay từ năm hợp đồng đầu tiên giúp cha mẹ trang trải những chi phí học tập cần thiết, hoặc có thể dùng để đóng phí nếu gặp khó khăn tạm thời về tài chính.

    Các phiếu tiền mặt này cũng có thể để lại để hưởng lãi theo lãi suất đầu tư thực tế của thị trường...

Từ khoá: bảo vệ tài chính quyền lợi bảo hiểm bão generali việt nam sản phẩm bảo hiểm việt nam generali thị trường bảo hiểm giáo dục

Hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí

ThS. Phạm Ngọc Quang, CFA - ThS. Trần Phú Việt (Theo Tạp chí Tài chính - Bảo hiểm)

(Tài chính) Bảo hiểm hưu trí là một hình thức bảo hiểm thuộc hệ thống hưu trí thu hút được sự quan tâm rất lớn của người lao động ở tất cả các nước trên thế giới. Một trong những thành phần quan trọng ảnh hưởng đáng kể đến sự thành công của bất kỳ chương trình bảo hiểm hưu trí nào là quỹ đầu tư bảo hiểm hưu trí hay gọi tắt là quỹ hưu trí.

Hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí

Quỹ hưu trí được hình thành từ những khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm hưu trí. Nguồn: internet

Quỹ hưu trí được hình thành từ những khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm hưu trí (ngườilao động và người sử dụng lao động) và thực hiện các hoạt động đầu tư để chi trả quyền lợi hưu trí cho người lao động khi đến tuổi về hưu. Tại các thị trường phát triển trên thế giới, quỹ hưu trí là quỹ đầu tư có quy mô tài sản quản lý lớn nhất thị trường. Theo một thống kê do công ty Towers Watson phối hợp với tạp chí Pensions & Investments thực hiện, tại thời điểm cuối năm 2012, tổng tài sản quản lý của 300 quỹ hưu trí lớn nhất thế giới lên tới 14.000 tỷ USD.

Mục tiêu đầu tư của quỹ hưu trí

Tương tự như các quỹ đầu tư khác, quỹ hưu trí cũng có các mục tiêu đầu tư khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của chương trình bảo hiểm hưu trí. Xét theo cơ chế đóng góp - thụ hưởng của người tham gia bảo hiểm hưu trí, quỹ hưu trí bao gồm 02 loại:

Quỹ hưu trí hoạt động theo cơ chế mức hưởng xác định trước (Defined Benefit, viết tắt là DB): Khi đến tuổi về hưu, người lao động sẽ nhận được quyền lợi hưu trí theo mức đã thống nhất trước từ quỹ DB bất kể kết quả đầu tư của quỹ ra sao (Ví dụ: 20% của lương bình quân 5 năm trước khi về hưu). Trường hợp kết quả đầu tư của quỹ không đủ bù đắp các khoản chi trả quyền lợi hưu trí, người sử dụng lao động sẽ phải bù đắp phần chênh lệch.

Như vậy, mục tiêu đầu tư ưu tiên của quỹ DB là bám sát mức chi trả quyền lợi hưu trí đã thống nhất với người lao động. Tất nhiên, các quỹ DB cũng có thể hướng đến mục tiêu tạo ra lợi nhuận cao hơn nghĩa vụ chi trả nhưng thực tế hoạt động đầu tư cho thấy đây không thường xuyên là mục tiêu có tính khả thi.

Quỹ hưu trí hoạt động theo cơ chế mức đóng xác định(Defined Contribution, viết tắt là DC): Khi đến tuổi về hưu, người lao động sẽ nhận được quyền lợi hưu trí căn cứ vào kết quả đầu tư của quỹ DC. Không giống như quỹ DB, nghĩa vụ của người sử dụng lao động chấm dứt ngay khi đã hoàn thành các khoản đóng góp vào quỹ theo thỏa thuận với người lao động. Như vậy, mục tiêu đầu tư của quỹ DC là tối đa hóa lợi nhuận cho người lao động trên cơ sở các khoản đóng góp và quy định đối với hoạt động đầu tư của quỹ.

Nhìn lại lịch sử phát triển của các quỹ hưu trí trên thế giới, quỹ DB là loại hình quỹ hưu trí xuất hiện đầu tiên. Tuy nhiên, quỹ DB hiện đang được thay thế bằng quỹ DC, đặc biệt là tại các nước phát triển. Có nhiều nguyên nhân có thể giải thích cho xu hướng này, trong đó một nguyên nhân hay được nhắc tới là thị trường chứng khoán hiện đại càng ngày càng biến động phức tạp. Có những giai đoạn thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh, ảnh hưởng đáng kể đến khả năng chi trả của các quỹ DB trong khi quyền lợi hưu trí vẫn không thay đổi dẫn tới người sử dụng lao động phải thực hiện các khoản đóng góp bổ sung ngày càng lớn.

Kết quả là trong nhiều trường hợp, người sử dụng lao động không thể thực hiện được nghĩa vụ đóng góp của mình. Một nguyên nhân khác là quyền lợi của người lao động tham gia các quỹ DC được quản lý theo tài khoản cá nhân. Trong một môi trường lao động hiện đại, khi người lao động chuyển đổi công việc từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, quyền lợi hưu trí của họ có thể được duy trì và cập nhật dễ dàng hơn với cơ chế của quỹ DC.

Quy tắc giới hạn định lượng (Quantitative Limit Rule) và quy tắc thận trọng (Prudent Person Rule):

Ngoài vai trò là một phương tiện đầu tư, quỹ hưu trí có ý nghĩa xã hội rất lớn vì kết quả đầu tư của quỹ tác động trực tiếp tới cuộc sống của người lao động. Chính vì vậy, hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí chịu sự giám sát rất chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước. Hiện tại, có hai cách tiếp cận đối với việc giám sát hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí như sau:

Quy tắc giới hạn định lượng (QLR): Theo quy tắc này, tỷ trọng của một loại tài sản trong danh mục đầu tư của quỹ được xác định cụ thể căn cứ vào mức độ rủi ro của bản thân tài sản đó (Ví dụ: Trái phiếu chính phủ tối thiểu 50%, cổ phiếu tối đa 20%...). Ưu điểm của cách tiếp cận này là rõ ràng nên cơ quan quản lý dễ dàng triển khai việc kiểm tra, giám sát. Chính vì ưu điểm này mà quy tắc giới hạn định lượng được sử dụng phổ biến tại các nước đang phát triển.

Mặc dù vậy, nhược điểm của nó là trong nhiều trường hợp, các giới hạn về tỷ trọng khá cứng nhắc. Theo lý thuyết tài chính hiện đại, rủi ro của một tài sản được đánh giá trong mối quan hệ tương quan với các loại tài sản khác trong danh mục đầu tư. Nếu đặt riêng rẽ, một tài sản có thể có rủi ro cao nhưng nếu đặt trong một danh mục đầu tư đa dạng, tài sản đó có thể góp phần giảm thiểu rủi ro cho danh mục.

Quy tắc thận trọng (PPR):Quy tắc này không đưa ra một giới hạn cụ thể nào cho các tài sản trong danh mục đầu tư mà thay vào đó là những tiêu chí mà người quản lý đầu tư phải tuân thủ trong quá trình thực hiện đầu tư cho quỹ hưu trí (Ví dụ: Hành động vì lợi ích tối đa của người thụ hưởng, Xây dựng danh mục đầu tư đa dạng, Tránh các rủi ro không thích hợp, Tránh xung đột lợi ích...).

Nếu QLR chú trọng đến kết quả thực hiện thì PPR tập trung vào quá trình thực hiện. Ưu điểm của PPR là cho phép xây dựng được một hệ thống các quỹ hưu trí đa dạng hoạt động theo cơ chế DC, đáp ứng được nhu cầu phong phú của người lao động. Nhược điểm của cách tiếp cận này chính là độ phức tạp trong quá trình giám sát. Vì vậy, PPR chỉ được áp dụng tại các nước có thị trường tài chính phát triển và hệ thống pháp luật hoàn chỉnh như Mỹ, EU...

Một số loại quỹ hưu trí dạng DC

Sự ra đời của bảo hiểm hưu trí theo cơ chế DC kết hợp với quy tắc PPR đã dẫn tới sự phát triển đa dạng của các quỹ hưu trí. Hiện tại, ở các nước phát triển, khi triển khai chương trình bảo hiểm hưu trí cho người lao động, người sử dụng lao động phối hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ xây dựng một hệ thống các quỹ hưu trí. Mỗi quỹ hưu trí trong hệ thống sẽ áp dụng một chiến lược đầu tư với mức độ rủi ro nhất định. Căn cứ vào các đặc điểm riêng của bản thân, đặc biệt là khả năng chấp nhận rủi ro, người lao động sẽ tự quyết định việc phân bổ tài sản vào hệ thống các quỹ hưu trí đó.

Ưu điểm của chương trình bảo hiểm hưu trí dạng này là sự linh hoạt đối với người lao động. Mặc dù vậy, nhược điểm của nó là người lao động phải được trang bị những kiến thức về tài chính, đầu tư khá chuyên sâu để hiểu được hoạt động của quỹ hưu trí cũng như những đặc điểm của bản thân để từ đó xây dựng được một kế hoạch phân bổ tài sản phù hợp. Mặt khác, nếu cơ quan quản lý áp dụng những quy tắc hạn chế định lượng quá chặt thì sẽ hạn chế đến việc hình thành một hệ thống quỹ đầu tư đa dạng.

Ngoài cơ chế linh hoạt như trên, trường hợp người lao động không thể quyết định được kế hoạch phân bổ tài sản của mình, nhiều chương trình bảo hiểm hưu trí đưa ra một lựa chọn khác gọi là lựa chọn "mặc định". Thông thường lựa chọn mặc định là một quỹ đầu tư sử dụng chiến lược đầu tư cân bằng theo đó tỷ trọng của các loại tài sản trong danh mục đầu tư được quy định cụ thể trong suốt thời gian hoạt động của quỹ (Ví dụ: Tỷ trọng cổ phiếu là 50%, trái phiếu là 50%...). Theo định kỳ, người quản lý đầu tư sẽ kiểm tra tỷ trọng của các loại tài sản trong danh mục đầu tư và thực hiện điều chỉnh về tỷ trọng mục tiêu nếu cần thiết (Ví dụ: Bán cổ phiếu được xem là over-priced và mua cổ phiếu được xem là under-priced).

Một hình thức lựa chọn mặc định khác là quỹ hưu trí đã xác định sẵn thời điểm kết thúc hoạt động (Target date fund). Người lao động sẽ lựa chọn quỹ hưu trí nào có thời điểm kết thúc hoạt động sát với thời điểm dự kiến về hưu nhất (Ví dụ: Người lao động dự kiến về hưu năm 2030 sẽ lựa chọn 2030 target date fund). Trong giai đoạn đầu, quỹ sẽ tập trung vào các tài sản có mức độ rủi ro cao (Có thể là 90% cổ phiếu, 10% trái phiếu). Trong quá trình hoạt động, tỷ trọng của các loại tài sản có mức độ rủi ro cao sẽ được điều chỉnh giảm dần để đảm bảo càng đến gần thời điểm kết thúc hoạt động thì người lao động sẽ có được một tỷ suất lợi nhuận ổn định.

Quản lý rủi ro cho quỹ hưu trí

Sự khác biệt cơ bản về rủi ro đối với Quỹ hưu trí có mức đóng xác định (Defined Contribution) và Quỹ hưu trí có mức hưởng xác định trước (Defined Benefit) nằm ở rủi ro về đầu tư. Nếu như đối với quỹ DB, doanh nghiệp sẽ phải chịu rủi ro khi giá trị tài sản của quỹ hưu trí giảm mạnh, thì với quỹ DC, rủi ro này đã được chuyển sang cho người lao động. Có thể nói việc các doanh nghiệp tham gia Quỹ hưu trí DC sẽ không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Nếu lợi nhuận của quỹ hưu trí thấp hơn kì vọng, khi đó người lao động sẽ phải chịu phần chênh lệch này.

Đối với quỹ hưu trí DC, nhà quản lý quỹ cũng sẽ không phải ước tính giá trị hiện tại của khoản nợ phải trả trong tương lai (vốn không hề dễ dàng bởi khó có thể xác định chính xác lãi suất chiết khấu trong tương lai), điều này sẽ loại bỏ rủi ro về thanh khoản giữa giá trị về tài sản (asset) và nợ phải trả (liability). "Cơn bão hưu trí" (A Perfect storm pension) - khái niệm ám chỉ khi giá trị tài sản của quỹ hưu trí giảm mạnh xuống dưới giá trị chiết khấu của khoản nợ - vốn xuất hiện tại thời điểm khủng hoảng năm 2000 và 2008 sẽ không xảy ra với Quỹ hưu trí DC. Vì vậy rủi ro về thanh khoản trong việc đáp ứng nghĩa vụ nợ và tài sản của quỹ hưu trí sẽ được giảm tối đa.

Do người lao động sẽ tự lựa chọn quỹ hưu trí theo các hình thức đầu tư khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu, công cụ tiền tệ khác..) nên mức độ rủi ro về đầu tư cũng sẽ rất khác nhau theo từng cấu trúc tài sản, cũng như mức chấp nhận rủi ro của người lao động. Nhìn chung, quỹ hưu trí DC sẽ gặp phải các loại rủi ro chính như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.

Rủi ro về thị trường - Sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận

Rủi ro về thị trường là rủi ro thất thoát vốn do những biến động bất thường của thị trường gây ra như giá cổ phiếu, biến động của lãi suất. Để giảm thiểu rủi ro về thị trường ở cách thức đơn giản và phổ biến nhất đó chính là tăng tỷ trọng đầu tư của quỹ vào các loại tài sản an toàn.

Tài sản của quỹ hưu trí có thể được đầu tư vào những công cụ tài chính có mức rủi ro thấp hoặc phi rủi ro như trái phiếu Chính phủ. Nhược điểm của loại hình đầu tư trên là mức biến động về lợi nhuận thấp, điều này đồng nghĩa với việc lợi nhuận trung bình thu được của quỹ cũng thấp theo, do đó, sẽ làm giảm mức thu nhập trung bình của người lao động.

Ngoài ra, loại tài sản được coi là an toàn (như trái phiếu Chính phủ) có thể có mức rủi ro thấp trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn thì không phải như vậy. Ví dụ, nếu rủi ro về lạm phát ở mức cao, vậy trái phiếu Chính phủ sẽ có mức lãi suất thực rất thấp. Trong khi đó, loại tài sản được xem như có mức rủi ro rất lớn trong ngắn hạn (như cổ phiếu) trong thực tế lại có thể là một loại tài sản an toàn với mức lợi nhuận và biến động tốt hơn trong dài hạn.

Để giám sát rủi ro về thị trường, các công cụ cơ bản thường được sử dụng như:

-     Stress Tests: Thiết lập các kịch bản của thị trường một cách ngẫu nhiên hay được xây dựng bởi dữ liệu trong quá khứ. Đây là một cách thức hiệu quả được sử dụng để rà soát lại vị thế của danh mục đầu tư.

-     Value At Risk (VaR): đo lường mức độ tổn thất tiềm năng của danh mục qua một khoảng thời gian nhất định ứng với độ tin cậy cho trước.

Ngoài hai chỉ số chính kể trên, các công cụ khác như kiểm tra khả năng đa dạng hóa về cổ phiếu, ngành nghề đầu tư, tracking error (cho danh mục cổ phiếu) hay PV01, Macaulay Duration (cho danh mục trái phiếu) cũng được sử dụng để quản lý rủi ro cho danh mục đầu tư. Các công cụ giám sát có thể thêm bớt, thay đổi tùy thuộc vào cơ cấu về tài sản, mục tiêu về lợi nhuận, mức độ chấp nhận rủi ro của danh mục.

Rủi ro về tín dụng

Đây là rủi ro khi đối tác mất khả năng thực hiện nghĩa vụ về tài chính, dẫn đến nguy cơ mất vốn đầu tư (trái phiếu doanh nghiệp, tiền gửi tại tổ chức tín dụng). Thông thường trên thế giới, để kiểm soát rủi ro này, các nhà quản lý quỹ sẽ sử dụng bảng xếp hạng về tín dụng do các tổ chức uy tín cung cấp như Moody's, S&P, Fitch... Tuy nhiên tại Việt Nam, việc xếp hạng tín dụng chưa được phổ biến nên giải pháp duy nhất là áp dụng mô hình tín dụng nội bộ (như mô hình định lượng để đánh giá chất lượng tín dụng của từng tổ chức phát hành của Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt). Ngoài ra mức độ đa dạng hóa về trái phiếu doanh nghiệp, tiền gửi cũng cần phải được giám sát chặt chẽ bằng việc đưa ra các giới hạn đầu tư tối đa vào một tổ chức tín dụng nhằm hạn chế tổn thất nếu có rủi ro phát sinh.

Rủi ro về hoạt động

Cùng với sự trở lại của những cuộc khủng hoảng về tài chính trong những năm qua, các tổ chức tài chính ngày càng chú trọng hơn trong việc áp dụng quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động của mình. Trong một bản nghiên cứu trong năm 2010, 89% các tổ chức tài chính chuyên nghiệp đều đã bổ nhiệm giám đốc về quản lý rủi ro trong vai trò tập trung và giải trình các báo cáo liên quan đến rủi ro của quỹ.

Rủi ro về hoạt động có thể gây nên những tổn thất trầm trọng cho quỹ đầu tư, nguyên nhân xuất phát có thể từ việc không tuân thủ các quy định về rủi ro hoạt động, do hệ thống công nghệ thông tin, quy trình xử lý giao dịch, tiến hành thanh toán chậm trễ, hoặc do bên thứ ba gây ra.

Do đó cần phải có kiểm soát nội bộ để kiểm soát các rủi ro liên quan đến hoạt động quản lý đầu tư như rủi ro hoạt động, rủi ro thương mại. Đối với rủi ro từ bên thứ ba, công ty cần phải tiến hành quy trình due diligence nhằm đánh giá chi tiết về năng lực của đối tác, sự thông qua của Ủy ban Quản lý rủi ro, và cuối cùng thường xuyên giám sát chất lượng của đối tác.

Quỹ hưu trí - Mảnh đất màu mỡ cho các công ty quản lý quỹ

Hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí không được thực hiện trực tiếp bởi người lao động hay doanh nghiệp sử dụng lao động mà sẽ được giao cho các công ty quản lý lý quỹ chuyên nghiệp thông qua hình thức hợp đồng ủy thác. Tại Việt Nam, quỹ hưu trí vẫn là một khái niệm khá mới mẻ và các công ty quản lý quỹ nội địa vẫn đang trong quá trình tìm hiểu cũng như học tập kinh nghiệm quốc tế trong việc vận hành và quản lý rủi ro cho hoạt động đầu tư của quỹ. Những khảo sát mới đây đã cho thấy tiềm năng huy động quỹ dạng này ở Việt Nam là rất lớn.

Theo điều tra năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với gần 700 doanh nghiệp tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, có đến 70% doanh nghiệp mong muốn và sẵn sàng tham gia cho người lao động vào quỹ hưu trí bổ sung. Có thể nói, với sự ra đời và phát triển của Quỹ hưu trí bổ sung đã mở ra cánh cửa mới cho cả người lao động, doanh nghiệp sử dụng lao động và các công ty quản lý quỹ.

Từ khoá: xây dựng cổ phiếu thị trường tài chính kết quả nghĩa vụ công ty quản lý quỹ đầu tư bảo hiểm quyền lợi gia tham gia bảo hiểm quy tắc công ty mức độ tổn thất lựa chọn quản lý nhà nước giảm thiểu rủi ro đóng góp tổn thất quy định cơ quan quản lý nhà nước việt nam mức thu nhập bảo hiểm chính phủ lao động người tham gia bảo hiểm công nghệ thông tin hình thức bảo hiểm tổng tài sản tài chính tài sản thị trường hạn chế người lao động hệ thống pháp luật thị trường chứng khoán doanh nghiệp thế giới bão công cụ giám sát đầu tư trái phiếu người sử dụng lao động kiểm tra phát triển quản lý quỹ chương trình bảo hiểm đa dạng an toàn hạn chế tổn thất lợi nhuận hình thức quy trình đối tác tín dụng bảo hiểm hưu trí

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

Lào Cai nợ đọng bảo hiểm gần 40 tỷ đồng

VOV.VN - Các đơn vị nợ chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do sản xuất không hiệu quả, ngừng hoạt động. 

ảnh: Tạp chí tài chính

Bảo hiểm xã hội Lào Cai cho biết, hết năm 2013, tình trạng nợ đọng bảo hiểm lên đến gần 40 tỷ đồng tại 216 đơn vị.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai đã triển khai nhiều giải pháp đôn đốc thu nợ, tạo điều kiện cho các đơn vị giải quyết quyền lợi cho người lao động.

 

Ông Đường Minh Tấn, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai cho biết: "Bảo hiểm xã hội tập trung phối hợp với các cơ quan chức năng, đơn vị  đã ký kết quy chế phối hợp tăng cường đôn đốc triển khai thực hiện việc nợ này. Đồng thời, báo cáo với Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân có biện pháp chỉ đạo các đơn vị cùng tham gia và tăng cường thực hiện chỉ thị 21 của Bộ Chính trị về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế"./.

Thanh Thủy/VOV - Tây Bắc

Từ khoá: chính sách bảo hiểm bão bảo hiểm xã hội đồng bảo hiểm người lao động vi bảo hiểm bảo hiểm

Một số chính sách có hiệu lực từ tháng 1 năm 2014

Ảnh minh họa - nguồn internet.
(eFinance Online) - Từ tháng 1/2014, một số quy định, chính sách mới về Tài chính, kiểm toán...có hiệu lực thi hành, cụ thể như sau:

Lĩnh vực Tài chính

Nghị định 181/2013/NĐ-CP quy định chi tiết luật quảng cáo đã đưa ra những quy định, thủ tục cụ thể cho từng loại sản phẩm như thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, phụ gia, hóa chất...

Đặc biệt, quảng cáo của những sản phẩm trên chỉ được thực hiện khi được cơ quan quản lý xác nhận về mặt nội dung trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ yêu cầu xác minh nội dung quảng cáo.

Nghị định 177/2013/NĐ-CPquy định chi tiết luật giá cũng có hiệu lực, quy định cụ thể các hoạt động bình ổn giá, định giá, kê khai giá và niêm yết giá của cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp.

Theo đó, các Bộ trưởng sẽ có trách nhiệm định giá đối với các hoạt động hàng không như dịch vụ hạ cánh, cất cánh..; buôn bán thuốc lá điếu...;khung giá bán điện, giá khám chữa bệnh, giá thuốc...

Nghị định 170/2013/NĐ-CPquy định các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài phải đáp ứng các tiêu chuẩn bắt buộc  của Việt Nam và quốc tế về chứng thực chữ ký số và chứng thư số mà Việt Nam có tham gia theo hướng dẫn .

Các chứng thư số nước ngoài sẽ được sử dụng tại Việt Nam nếu được Bộ Thông tin - Truyền thông cấp giấy chứng nhận và có thời hạn sử dụng trong 5 năm; áp dụng với doanh nghiệp có 100%  vốn nước ngoài và  Tổ chức nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam.

Theo hướng dẫn tại Nghị định 209/2013/NĐ-CPvề hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng thì ngoài các đối tượng không thuộc diện kê khai và nộp thuế theo quy định trước đây, thì sẽ có thêm hai đối tượng sau:

- Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh dịch vụ hàng hóa chịu thuế GTGT cho DN, HTX.

- Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thường được bán cho DN, HTX (không phân biệt có phải là hàng hóa tự sản xuất, đánh bắt hay không).

Theo quy định tại Thông tư 214/2012/TT-BTCvề hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành,trong năm 2014 sẽ có 37 chuẩn mực kiểm toán mới được áp dụng .

Trong đó có một số chuẩn mực đáng chú ý như:  Chuẩn mực số 210 - Hợp đồng kiểm toán; Chuẩn mực số 230 - Tài liệu, hồ sơ kiểm toán; Chuẩn mực số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính; Chuẩn mực số 500 - Bằng chứng kiểm toán...

Lĩnh vực đầu tư

Theo hướng dẫn tại Thông tư 07/2013/TT-BCTviệc sử dụng hóa chất nguy hiểm được hiểu là là quá trình dùng hóa chất nguy hiểm trong sản xuất công nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hóa nhất định và phải đăng ký sử dụng.

Các tổ chức, cá nhân sử dụng hóa chất nguy hiểm thực hiện đăng ký sử dụng bằng văn bản với Sở Công thương thuộc địa bàn quản lý trong vòng 15 ngày làm việc trước khi bắt đầu sử dụng; hoặc đăng ký lại khi chuyển đổi địa điểm hoặc chủ sở hữu.

Cùng thời điểm này việc các tổ chức lập hồ sơ đề xuất khu vực phát triển đô thị không được vượt quá 12 tháng kể từ ngày giao lập hồ sơ theo hướng dẫn tại Thông tư 20/2013/TTLT-BXD-BNVhướng dẫn Nghị định 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị.

Thời gian thẩm định hồ sơ đề xuất khu vực phát triển đô thị cũng không được vượt quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ trình thẩm định hợp lệ theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 11/2013/NĐ-CP.

Lĩnh vực lao động, tiền lương

Từ đầu năm 2014, đoàn viên công đoàn đang sinh hoạt tại các công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn sẽ phải tham gia đóng đoàn phí theo hướng dẫn 1803/HD-TLĐ về đóng đoàn phí công đoàn.

Theo đó, đoàn viên trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp hưởng lương nhà nước; các tổ chức chính trị xã hội, xã hội - nghề nghiệp... sẽ đóng 1% tiền lương cấp bậc, chức vụ, lương theo hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động và các khoản phụ cấp chức vụ..

Đoàn viên thuộc các tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp ngoài nhà nước; hợp tác xã; các tổ chức nước ngoài sẽ đóng 1% dựa trên tiền lương thực lĩnh.

Theo quy định tại Nghị định 182/2013/NĐ-CP,mức lương tối thiểu vùng mới đối với các doanh nghiệp hợp tác xã và các cơ quan tổ chức có thuê mướn lao động sẽ được áp dụng từ ngày 1/1/2014 như sau:

- Vùng I : 2.700.000 đồng/tháng

- Vùng II: 2.400.000 đồng/tháng

- Vùng III: 2.100.000 đồng/tháng

- Vùng IV: 1.900.000 đồng/tháng

Theo quy định tạiQuyết định 1111/QĐ-BHXH, mức đóng bảo hiểm xã hội trong năm tới cũng sẽ được điều chỉnh tăng thêm 2%, cụ thể như sau:

- Người sử dụng lao động đóng 18%, nâng tổng mức đóng BHXH, BHYT, BHTN lên 22%;

- Người lao động đóng 8%, tổng mức đóng các loại bảo hiểm như trên là 10,5%.

(T.H - tổng hợp)

Từ khoá: bộ tài chính việt nam giá trị gia tăng hợp đồng quy định lao động tổ chức kinh tế bảo hiểm xã hội nghị định hàng hóa phát triển đồng bảo hiểm quảng cáo tài chính giấy chứng nhận gia dịch vụ thông tư người lao động doanh nghiệp nhà nước khám chữa bệnh sản phẩm nguy hiểm người sử dụng lao động thuế giá trị gia tăng

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Schumacher vẫn chưa qua cơn nguy kịch

ANTĐ - Tay đua công thức 1 huyền thoại, Michael Schumacher vừa trải qua ca phẫu thuật não lần thứ 2 tuy nhiên nhà vô địch thế giới này vẫn đang trong tình trạng hôn mê. Các bác sĩ chăm sóc cho anh nói rằng tình trạng sức khỏe của Michael Schumacher đã có dấu hiệu khả quan hơn, tuy nhiên vẫn chưa thể khẳng định được rằng anh đã qua cơn nguy kịch.

Schumacher đã gặp tai nạn hôm 30-12 khi đang trượt tuyết tại khu nghỉ dưỡng Meribel thuộc dãy núi Alps của Pháp. Mặc dù có đội mũ bảo hiểm nhưng cú va đập mạnh vào đá đã khiến anh bị thương nặng ở đầu và được đưa tới bệnh viện ở Grenoble trong tình trạng hôn mê. 

Khánh Dương

(Theo CNA)